Những ngày này, ai đến Sài Gòn mà không vào Dinh Thống Nhất – trước 30/4/1975 gọi là Dinh Độc Lập, thì chưa hiểu hết Sài Gòn. Là một tác phẩm nghệ thuật kiến trúc nổi tiếng, kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người đã đạt giải Hoa khôi La Mã về kiến trúc, tác giả của công trình kiến trúc Dinh Độc Lập, khi chưa mất cho biết: Khi thiết kế đồ án Dinh Độc Lập, trong một khuôn viên rộng 120.000 m2, có hình dạng cân đối dài 400m x rộng 300m, ông phải tính sao cho lối kiến trúc vừa hiện đại vừa rất mang tính Việt Nam.
Một tuyệt tác của Kiến trúc Việt Nam
Biểu trưng chủ thể được kiến trúc sư Ngô Viết Thụ tuân thủ khi thiết kế Dinh là chữ Vương và chử Khẩu biểu trưng cho quyền lực ở mặt trước Dinh, dinh có 23 phòng, đều là lối kiến trúc hiện đại và đầy tính cách người Việt. Từ lầu 1, ta ra bao lơn rộng, được kiến trúc theo chữ tam, biểu trưng cho nơi ngôn luận, phát ngôn của bộ máy. Về thiết kế nhìn mặt trước, Dinh thự toàn bộ bao lơn lầu 2 và lầu 3 toàn bao lơn lầu 2 và 3 kết hợp mái hiên trên lõi vào chính cánh giữa, cùng 2 cột lớn bọc gổ dưới mái hiên, tạo thành chữ Hưng (Trình duyệt của bạn có thể không hỗ trợ hiển thị hình này.) mang ý cầu chúc cho non nước nhà hưng thịnh mãi. Vẽ đẹp kiến trúc này còn được thể hiện từ bức rèm hoa đá có hình dáng như những đốt trúc thanh tao của người Việt được bao xung quanh toàn bộ lầu 2. Nét rất tươi là các bức rèm hoa đá được biến cách từ các bức cửa bàn lầu vọng của các cung điện cố đô Huế, nên không chỉ làm tăng them vẽ trang nhã của Dinh, mà có tác dụng lấy ánh sang mặt trời đủ vào trong. Đi vào bên trong các phòng, nhất là bước vào 2 phòng khánh tiết tầng trệt, nét trang nghiêm và sự trang nhã, rất đầy tính người Việt đều lấy câu chính đại, quang minh của một quốc gia làm chủ đề kiến trúc nội thất trong của tòa Dinh Độc Lập.
Cho đến nay, Dinh Độc Lập vẫn là nơi chứng kiến nhiều sự kiện trọng đại nhất của Dân tộc và đất nước ta, từ sau năm 1862, sau khi 3 tỉnh miền Đông, rồi 3 tỉnh miền Tây rơi vào tay người Pháp. Và sự kiện trọng đại nhất là ngày 30/4/1975 khi cả Sài Gòn nhân dân đổ ra đường để chào mừng chiến thắng. Thời khắc sau 11 giờ 30, ngày 30-4-1975, lúc cả nội các Chính phủ Sài Gòn và tướng Dương Văn Minh đã lên xe của quân giải phóng sang Đài Phát thanh Sài Gòn (tại số 3 - Nguyễn Đình Chiểu bây giờ), để đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Sân Dinh trưa 30/4 tràn nắng trãi rộng, nhân dân Sài Gòn xung quanh đổ ra đường vui mừng chào đón, các anh bộ đội đứng chào bà con reo hò vui mừng, nhất là xung quanh 4 phía mặt đường của khuôn viên Dinh vào trưa Sài Gòn thuộc về nhân dân Thành phố. Trời Sài Gòn nhìn từ trong Dinh trở ra trưa hôm đó đã khá yên tỉnh, không còn cảnh súng đạn, đổ máu, mà chỉ thấy những nụ cười tươi như hoa của các cô gái Sài Gòn khi tò mò muốn đến xem bộ đội giải phóng như thế nào mà hành quân nhanh thế, để được bắt tay vui vẻ, chào đón các anh bộ đội vừa vào giải phóng xong thành phố.
Thượng tá Hoàng Cao Đại, nay là Chủ tịch Hội Cựu chiến Binh quận 4 – TP Hồ Chí Minh là một trong những sỹ quan QĐNDVN được giao tiếp quản, đóng chốt và canh giữ Dinh Độc Lập trong những ngày đầu Sài Gòn được giải phóng, vẫn còn nhớ như in về nhưng ngày đơn vị được Tư lệnh Quân đoàn 4 giao cho những trọng trách đó.
Chiều tối hôm đó trung tá Nguyễn Ngọc Doanh, Chính ủy Trung đoàn 141 (về sau là Thiếu tướng, Phó tư lệnh Quân đoàn 4) gọi anh Hoàng Cao Đại đến giao nhiệm vụ khá quan trọng đầu tiên của ngày 30 – 4 – 1975: “Được Quân đoàn uỷ nhiệm, tôi giao nhiệm vụ cho đồng chí làm sỹ quan liên lạc giữa lãnh đạo Quân đoàn với nội các của chế độ Sài Gòn cũ. Đồng chí có trách nhiệm nghe và truyền đạt những ý kiến của các thành vên nội các Sài Gòn với lãnh đạo Quân đoàn”!. 21giờ 30 ngày 30-4 đó, bàn giao xong các nhiệm vụ tại đại đội, kiểm tra các cổng an toàn, anh bắt đầu trở thành sỹ quan liên lạc chính thức của Quân đoàn 4 với các thành viên của Nội các Sài Gòn đã đầu hàng.
Ngày đầu tiên của thành phố Sài Gòn đã giải phóng, trong khuôn viên Dinh Độc Lập, ngoài Đại tướng Dương Văn Minh còn có “Thủ tướng” nguỵ quyền Vũ Văn Mẫu, “phó Thủ tướng” Nguyễn Văn Hảo, quyền Tư lệnh quân lực Sài Gòn Nguyễn Hữu Hạnh, và cả nhân vật tình báo đặc biệt của ngành tình báo quân đội ta, lúc đó đang là Cố vấn đặc biệt cho Tổng thống nguỵ quyền Sài Gòn, đó là Thiếu tướng QĐNDVN Vũ Ngọc Nhạ – mà các anh đại đội 7 vào tiếp quản Dinh vẫn chưa thể biết, theo nguyên tắc của ngành tình báo. Họ cùng với tất cả gia đình họ và đội quân phục vụ trong Dinh Độc Lập với khoảng 35 người.
Sáng 1 – 5 – 1975, các đồng chí lãnh đạo của Quân đoàn 4 sang kiểm tra tình hình, mọi thứ đều an toàn và vẫn theo kế hoạch đ định, rất yên tâm. Các gia đình của nội các Sài Gòn trước đó thì tỏ ra sợ sệt, sợ bị ta trả thù, tắm máu… như chúng được tuyên truyền nguỵ nói từ trước giải phóng, nên không ra khỏi phòng họ, và tuyệt không ai ra khỏi khuôn viên sân Dinh. Sân Dinh rộng, nên ngày đầu tiên giải phóng vắng lặng, nhất là những chiều 1-5, 2-5… nghe được cả tiếng lá vàng rơi trên các cây cổ thụ trong khu Dinh rộng lớn, có nhiều cây cối hàng trăm năm nay. Sáng ngày 2 – 5 – 1975, các vị “nguyên thủ” Minh lớn, Mẫu, Hảo… đều tự tay mình viết thư gữi cho Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng, và Đại tướng Võ Nguyên Gíap. Anh em đơn vị nhận thư và chuyển ngay cho bộ phận liên lạc, tuyệt đối không được bóc ra lá thư nào, và không ai hỏi họ viết những gì. Tướng Minh Lớn thì viết và đưa thẳng cho Sỹ quan liên lạc bộ đội ta Hoàng Cao Đại, ngay từ mới sáng sớm ngày 2 – 5. Sinh hoạt của Dinh những ngày đầu đó cũng bình thường, gia đình họ được ta tiếp tế thức ăn, quần áo, các vật dụng khác đầy đủ, nên họ rât yên tâm, và luôn cảm ơn bộ đội giải phóng. Còn bộ đội ta tiếp quản trong Dinh dù trong kho dự trữ của Dinh có đủ các loại thực phẩm ướp lạnh, đồ hộp cao cấp, song anh em bộ đội ta thì vẫn quen với nếp nhà binh, mang gạo vào tự nấu ăn với cá khô, rau muống hoặc thịt hộp mang theo xe hành quân, như cảnh quen thuộc của thời chiến.
Tướng Minh là người nhạy cảm, nên anh em bộ đội ta khi nói chuyện được ông hỏi nhiều, ông đã hỏi họ nhiều điều thắc mắc, mà nhờ họ nói rõ cho ông biết là tại sao Sài Gòn, với nhiều quân, binh chủng, phương tiện hiện đại mà lại thất thủ nhanh đến như thế. Một lần nói chuyện, tướng Minh hỏi “tại sao các ông có thể đánh chúng tôi nhanh như vậy”!, ông Đại nói rõ cho tướng Minh:“ông là một vị tướng, là nhà nghiên cứu quân sự, chắc cũng biết trong Lịch sử của nước ta; Thiên tài Nguyễn Huệ đã có cách tiến quân thần tốc, chỉ 5 ngày đêm đã từ Huế ra Bắc đánh ta 2 vạn quận của Nhà Thanh do tướng Tôn Sỹ Nghị cần đầu; chúng tôi chỉ học được từ cha anh thôi! ”. Ông Minh nghe, gật đầu ra tỏ hiểu, nhưng vẫn thắc mắc: “Nhưng chúng tôi vẫn chưa hiểu vì sao các ông tiến quân hàng ngàn km trong rừng, đủ mọi địa hình mà xe tăng các ông vẫn còn như mới. Tôi cứ ngỡ xe hành quân hàng ngàn cây số, đi qua nhiều chiến trường, thì vào phải đại tu ngay chứ!”. Là nhà cầm quân, ông Minh vẫn còn bất ngờ rất nhiều chuyện về quân giải phóng, khi hỏi chúng tôi vào Sài Gòn mà sao xe nào cũng vẫn nguyên xi, sạch sẽ, sẵn sàng chiến đấu ngay … còn anh em chiến sỹ thì phong thái rất hồn nhiên, tươi trẻ, mang ý thức chiến đấu rất cao.
Những ngày đầu tiên này trong dinh nguyên “Thủ tướng” Vũ Văn Mẫu khi đển nói chuyện thăm hỏi với các anh bộ đội ta, đã hỏi: “Các anh thấy Sài Gòn có đẹp không”? Ngồi đối diện, Chính trị viên Đại đội Hoàng Cao Đại trả lời ngay: “Sài Gòn đang có nước đục, nhưng rồi tạm lắng, sẽ trong lại ngay”. Những câu hỏi của các thành viên nội các nguỵ quyền Sài Gòn, hỏi và cốt để thăm dò bộ đội ta, được anh em đại đội trả lời nhanh chóng, đủ cho họ yên tâm ở trong Dinh trước khi cùng gia đình trở về nhà họ sau đó an toàn.
Những ngày đầu tiếp quản Dinh Độc Lập và mấy ngày sau, khi gia đình các nhân vật trong nội các nguỵ quyền Sài Gòn, yên tâm trở về nơi nhà ở của họ, Đại đội đã bố trí xe ôtô bảo vệ chu đáo cho họ, để họ và gia đình về nhà trong mọi sự bình an. Đầu tiên là đại đội sắp xếp cho Tướng Minh vẫn về lại nhà cũ, biệt thự “Hoa Lan” ở ngay góc đường Võ Văn Tần – Patuer ngày nay; và có dịp ông vẫn sang trò chuyện, cảm ơn anh em trong đại đội, khi đó sang đóng quân ở gần kế nhà ông Minh. Các nhân vật khác trong Nội các Sài Gòn, ai cũng yên tâm những ngày đầu Sài Gòn giải phóng, không có cảnh phá phách, hôi của diễn ra, hay cảnh đập phá các công sở … xung quanh đơn vị đóng quân.
Sài Gòn được giải phóng trong cảnh bình an, trong nguyên vẹn của thành phố đầy hoa tươi và tiếng cuời của nhân dân, là bao hy sinh vô bờ bến của quân và dân TP. Các thành viên của nội các Chính phủ Sài Gòn đều được anh em bộ đội ta đối xử thân tình, cởi mở, đủ cho họ và gia đình tin tưởng về chính sách nhân đạo, hoà hợp dân tộc Việt nam. Sau những ngày yên lại, họ cùng gia đình về nhà an toàn sau tuần giải phóng. Với các chiến sỹ Đại đội 7, Quân đoàn 4, những hy sinh thầm lặng của người chiến sỹ vào ngay sáng ngày 30/4/1975, trước cửa nội ô đang giải phóng, cả khi vào đến Dinh Độc Lập là rất to lớn không gì bù đắp nổi cho các chiến sỹ bộ đội ta bao người đã hy sinh sáng đó để ta giành chiến thắng.
30 - 4 – 2009
Phạm Bá Nhiễu
Trích từ blog của Daigiaso1cuatamtay.vn
Khi những cơn mưa đầu mùa bắt đầu kéo về xua tan cái oi bức, nóng nực của khí trời mùa hạ 2008; khi những con ve sầu bắt đầu râm ran trong vòm lá, người người lại nô nức đón chào kỉ niệm lần thứ 118 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh- Vị Cha già kính yêu của dân tộc (19- 5- 1890 và 19- 5- 2008).
Cả nước lại sắp hân hoan đón chào sinh nhật Bác Hồ- Người đã hy sinh cả đời mình cho non sông, đất nước. Cuộc đời và tấm gương đạo đức của Bác là nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ sáng tác. Tôi thích nhất là bài "Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người" của nhạc sĩ Trần Kiết Tường.
"Tôi hát ngàn lời ca bao la hơn những cánh đồng.
Mênh mông hơn mặt biển Đông, êm đềm hơn những dòng sông"
Bài hát được cất lên với những giai điệu nhẹ nhàng mà da diết lòng người. Lời ca có một sức mạnh diệu kỳ, lời ca thâu tóm những mênh mông của đất trời, sông núi. Không chỉ có thế, lời bài ca được tác giả hình tượng hóa lên một cách đẹp đẽ lạ thường:
"Tôi hát ngàn lời ca nồng nàn hơn nắng ban mai, đẹp tình hơn cánh hoa mai"
Những gì tinh tuy nhất, đẹp đẽ nhất, nên thơ nhất trong cuộc sống đã được tác giả khắc họa vào ca khúc của mình. Lời ca đã vượt lên trên tất cả, nó nồng nàn hơn ánh nắng ban mai, đẹp tình hơn cả những cách mai vàng rộn sắc hương. Trần Kiết Tường đã phả vào ca khúc của mình một luồng sinh khí của thiên nhiên đất nước. Phải chăng tâm hồn tác giả đang phơi phới, tác giả cất cao giọng hát, thả rộng hồn mình vào giữa sắc nước mây trời. Đâu là động lực để tác giả yêu đời, yêu cuộc sống đến thế:
"Hùng thiêng hơn núi sông dài là một niềm tin Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người là một niềm tin Hồ Chí Minh"
Nếu ở những giai điệu ban đầu ta cảm nhận được một Trần Kiết Tường đang yêu đời, yêu cuộc sống, đang say sưa cất cao giọng hát thì đến đây ta hiểu được tại sao tác giả mở rộng hồn mình với thiên nhiên đến thế!
"Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người là một niềm tin Hồ Chí Minh"
Hồ Chí Minh- Người đã đem đến cho tác giả một nguồn cảm hứng bất tận, một niềm tin vững chắc vào cuộc sống. Lời bài hát cứ láy đi láy lại cụm từ "Hồ Chí Minh", "niềm tin" làm cho bài hát càng thêm sức sống. Phải chăng Hồ Chí Minh là một biểu tượng, là niềm tin vững chắc không riêng gì tác giả mà là của toàn thể nhân dân Việt Nam và nhân loại?!
Bác Hồ với các cháu thiếu nhi
Trong công cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc, gian khổ hiểm nguy từng giây từng phút đe dọa nhưng người chiến sĩ cách mạng luôn kiên trì gìn lòng, không khuất phục trước quân thù. Họ vẫn luôn giữ vững một niềm tin tất thắng ở ngày mai. Họ tin tưởng vào Đảng, vào tài lãnh đạo tài tình của Đảng và Bác Hồ. Lời của Người là lời của non sông đất nước, là hồn thiêng sông núi.
"Trên cánh đồng miền Nam đau thương mây phủ chân trời.
Khi ca lên Hồ Chí Minh, nghe lòng phơi phới niềm vui"
Khi Trần Kiết Tường viết ca khúc "Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người" chính là lúc nhân dân miền Nam đang ra sức đánh Mỹ cứu nước. Nhân dân đang sống trong cảnh gông cùm của gót giày xâm lược, đau thương trùm phủ chân trời.
Mặc dù đau thương, mặc dù sống trong cảnh chinh chiến nhưng nhân dân ta luôn giữ vững niềm tin, niềm vui vẫn hiện mãi trên môi khi "ca lên Hồ Chí Minh". Nhắc đến Bác, nghĩ về Bác lòng ta càng thêm yêu đời.
"Trên xóm làng miền Nam hình Người như tiếng quân ca, giục lòng vươn cánh bay xa.
Vùng lên giải phóng quê nhà là một niềm tin Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người là một niềm tin Hồ Chí Minh"
Bác Hồ - Vị lãnh tụ - người cha vĩ đại
sẽ sống mãi trong mỗi trái tim Việt Nam
Bác Hồ là một vị thuyền trưởng tài ba ngày đêm "lèo lái con thuyền cách mạng" đi đến bến bờ. Hình ảnh của Người như tiếng quân ca, giục lòng người hướng về tương lai tươi với nền hòa bình cho đất nước. Nhân dân nghe lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác vùng lên đấu tranh giải phóng quê nhà với niềm tin tất thắng.
Nay bác đã mãi mãi đi xa để lại cho cháu con nghìn tiếc nuối "Bác đã lên đường theo tổ tiên. Mác- Lênin thế giới người hiền". Con cháu nguyện lòng nhớ mãi ơn Người sẽ luôn gắng sức làm theo lời Người dạy để "ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" như lòng Bác mong đợi.
Ngày 19 tháng 5 năm 1890, dưới chế độ Pháp thuộc, tại một làng nhỏ ven sông Lam thuộc huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh 15 km, đã ra đời một cậu bé, được đặt tên Nguyễn Sinh Cung, sau đổi tên là Nguyễn Tất Thành. Thân phụ là một nhà nho, thân mẫu vừa làm nghề dệt vải, vừa làm ruộng. Lúc ấy có ai biết được là con người này sẽ trở thành Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại đầu tiên của một nước Việt Nam độc lập, người đã được UNESCO suy tôn là ANH HÙNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC - NHÀ VĂN HÓA KIỆT XUẤT.
Mang trong mình truyền thống hiếu học của gia đình, từ tuổi lên 8, cậu đã học chữ Hán. Năm 13 tuổi cậu đã học tiếng Pháp tại trường tiểu học Vinh, tiếp đó học tại trường Quốc học Huế.
Ngôi nhà tranh ở làng Hoàng Trù (tức làng Trù - Nghệ An) là nơi sinh, quê ngoại Hồ Chủ tịch
Thời niên thiếu, Nguyễn Tất Thành đã phải chứng kiến cảnh đói khổ và thân phận nô lệ của đồng bào mình, cậu đã sớm nuôi ý chí giành độc lập cho Tổ Quốc, tự do và no ấm cho đổng bào.
Ngày 5 tháng 6 năm 1911, ở tuổi 21, từ bến cảng Nhà Rồng của thành phố Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành đã rời Việt Nam ra đi trên con tàu Pháp mang tên Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin. Cũng từ đó, Người đã dành toàn bộ trí tuệ và sức lực của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trong hơn 10 năm, Người đã làm những nghề khó nhọc nhất, làm bồi tàu, làm vườn, thợ rửa ảnh, quét tuyết, phụ việc cho nhà bếp ở khách sạn Các-lơ-tơn tại Anh. Người đã từng sống ở Pháp, đi vòng quanh bờ biển Châu Phi, sống ở Mỹ, Anh rồi lại trở về Pháp, theo lời Người nói là “Xem xét họ làm ăn thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”.
Con tàu La-tu-sơ Tơ-rê-vin
Những tháng năm đó, Người đã nghiên cứu Cách mạng Pháp, Cách mạng Mỹ, Cách mạng Nga, nghiên cứu các tổ chức Quốc tế và thực tế của nhiều nước để xây dựng các tổ chức cho Cách mạng Việt Nam. Người đã tham gia Đảng cộng sản Pháp, Quốc tế cộng sản, và ngày 3 tháng 2 năm 1930, Người đã thành lập ra Đảng Cộng sản Đông Dương (sau này thành Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam).
Ngôi nhà số 9, ngõ Com-poăng (Pari) Người ở trọ từ năm 1920 đến 1923
Là nhà báo xuất sắc, ngay từ những năm 20 (thế kỷ XX), Người đã viết bài cho nhiều tờ báo, nhằm tố cáo tội ác dã man của bọn thực dân, nỗi khổ của người dân thuộc địa, thức tỉnh nhân dân Việt Nam đoàn kết lại để tìm con đường giải phóng dân tộc.
Danh thiếp của Hồ Chủ tịch trong thời gian Người ở Pháp
Thành công trong việc tổ chức lực lượng cách mạng nhưng người đã từng bị bắt giam tại nhà tù Victoria (Hồng Kông) năm 1931 và bị giải tới giải lui qua 18 nhà tù trên đất Quảng Châu (Trung Quốc) những năm 1942-1943 .
Ngục trung nhật ký, Hồ Chủ tịch viết trong thời gian bị bắt tại Trung Quốc
Ngày 19 tháng 5 năm 1941, Người đã thành lập ra Việt Nam Độc lập Đồng minh (Việt Minh), tạo nên khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đấu tranh giành độc lập. Tháng 8 năm 1945, kịp thời đón lấy cơ hội thuận lợi, Việt Minh đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Người đã đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, với câu mở đầu bất hủ “Mọi dân tộc đều có quyền bình đẳng...”, và lời nói gần gũi “Tôi nói đồng bào có nghe rõ không?” đã lắng lại trong trái tim của người dân Việt Nam qua biết bao thế hệ.
Những ngày tháng 8-1945 ở Hà Nội
Là người lãnh đạo đất nước, bên cạnh nhưng việc lớn và đối nội đối ngoại, Người luôn quan tâm đến việc nâng cao đời sống của nhân dân, mở mang giáo dục để dân được học hành. Người thường xuyên đi thăm dân để hiểu về đời sống của dân, động viên nhân dân đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, phát huy truyền thống yêu nước nhân ái và tinh thần đại đoàn kết dân tộc vĩ đại như Người đã từng nói trong lời hiệu triệu tổng khởi nghĩa “… dù các từng lớp sĩ, nông, công, thương, binh, gồm đủ các dân tộc Việt, Thổ, Nùng, Mường, Mán. Trong Việt Minh, đồng bào ta bắt tay nhau chặt chẽ, không phân biệt trai, gái, già, trẻ, lương giáo, giàu nghèo”.
"Người ngồi đó với cây chì đỏ
Vạch đường đi từng bước, từng giờ"
(Tố Hữu)
Hồ Chủ tịch cùng dân tát nước chống hạn (Tỉnh Hà Tây)
Bình sinh, Hồ Chủ Tịch vẫn thường nói “Một ngày mà Tổ Quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”.
Cả cuộc đời, Người đã dồn hết trí tuệ và sức lực để mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân. Cho đến trước lúc ra đi, Người đã để lại di chúc cho toàn Đảng, toàn dân và bạn bè năm châu, có đoạn viết: “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ Quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay, dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa".
Bác Hồ là con người như thế! Người sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè thế giới.

Bình sinh
Bình sinh Hồ Chủ tịch là người rất giản dị, lão thực. Vĩ nhân, thật vĩ nhân bao giờ cũng giản dị, lão thực. Đã cầu kỳ là thiếu bản lĩnh, cố làm trò để đánh lừa thiên hạ và hậu thế. Vua Nghiêu, vua Thuấn, chúa Giêsu là những người giản dị, lão thực. Ông Lênin, ông Tôn Văn, thánh Găngđi cũng là những người giản dị, lão thực. Bậc đại khoa học, đại văn hào cũng vậy. Trái lại, Hítle là một kẻ gian hùng. Còn bên cạnh Hítle, Mútxôlini chỉ là một thằng hề.
Xem một đôi bức ảnh Hồ Chủ tịch, có người nói mắt Người có hai con ngươi, và tin rằng vì chỗ đó, Người là một ông thánh. Làm gì có chuyện hoang đường như thế! Mắt Hồ Chủ tịch cũng như mắt mọi người, sáng hơn mắt mọi người nhiều lắm đã đành, nhưng sáng hơn vì Người biết nhìn, nên nhìn thấy những cái mọi người không nhìn thấy: hiện tại, tương lai, cái nhỏ, cái to.
Hồ Chí Mih trở lại Trung Quốc, mười năm sau khi Người bị giam ở nhà tù Quốc dân đảng trong 14 tháng.
Hồ Chủ tịch là người Việt Nam, Việt Nam hơn người Việt Nam nào hết. Ngót ba mươi năm bôn tẩu bốn phương trời, Người vẫn giữ thuần tuý phong độ, ngôn ngữ, tính tình của một người Việt Nam. Ngôn ngữ của Người phong phú, ý vị như ngôn ngữ người dân quê Việt Nam; Người khéo dùng tục ngữ, hay nói ví, thường có lối châm biếm kín đáo và thú vị. Làm thơ, Người thích lối ca dao, vì ca dao là Việt Nam cũng như núi Trường Sơn, hồ Hoàn Kiếm hay Đồng Tháp Mười vậy. Mấy mươi năm xa cách quê hương, Người không quên mùi vị những thức ăn đặc biệt Việt Nam như cà muối dưa chua, tương ớt, và ngày thường bây giờ, Người vẫn ưa thích những thứ ấy. Ngay sau khi về nước, gặp Tết, Người không quên mừng tuổi đồng bào hàng xóm và quà bánh cho trẻ em, tuy chỉ có mấy đồng xu, nhưng cũng bọc giấy hồng đơn cẩn thận, tươm tất. Bình sinh như thế, đứng địa vị Chủ tịch Chính phủ kháng chiến kêu gọi quốc dân, Người dùng những lời nói thống thiết đi sâu vào tâm hồn Việt Nam:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng”1.
Lối ăn ở của Hồ Chủ tịch giản dị như thế nào, chúng ta đã từng biết. Lúc ở chiến khu, Người sống chung với anh em trong một cơ quan, làm việc, học tập, ăn ở, sinh hoạt nhất nhất như anh em. Có những lúc vì gạo thiếu hay khí hậu nặng, cần ăn ít một chút, Người cũng vui vẻ chịu đựng cùng anh em. Kể ra, Người có chỗ được biệt đãi: đó là bát nước cơm mà anh Lộc, đồng chí cấp dưỡng lành nghề và thân mến của chúng tôi lúc ấy, bao giờ cũng để dành riêng cho người, từ biên giới Cao Bằng cho đến Tân Trào, trước khi về Hà Nội. Ở Hà Nội, Chủ tịch Chính phủ có phòng làm việc, phòng tiếp khách, nhiều khi chủ toạ những bữa tiệc long trọng, nhưng bình thường ngày hai bữa, Chủ tịch Chính phủ cùng nhân viên đều ăn chung. Nhiều lần, vì đến quá trễ, thức ăn không còn gì, Hồ Chủ tịch vẫn vui cười ăn đủ mấy bát cơm thường lệ.
Người vẫn thích đi bộ, tắm sông, hút thuốc lá và thỉnh thoảng uống một ly rượu thuốc trong bữa cơm. Trước đây, Người đi bộ một ngày 50 cây số là thường và có thể đi như thế ngày nọ qua ngày kia. Lúc ở Côn Minh, sáng nào Người cũng đi bộ một vòng quanh thành phố. Ở Liễu Châu, mùa đông, một hôm tướng Trương Phát Khuê đi ngựa dạo buổi sớm gặp Người tắm trên sông, Trương tướng quân lấy làm lạ một người ở phương Nam châu Á chịu rét giỏi đến thế. Ở Cao Bằng, có lúc cơ quan đóng tại một cái suối lớn vừa ở trong hang đá chảy ra, nước trong xanh biếc dưới bóng mát của rừng cây; Hồ Chủ tịch suốt ngày làm việc ở đó với cái máy chữ “Hét mét” luôn luôn đi theo Người từ năm 1938 đến khi về Hà Nội.
Hồ Chủ tịch ở chiến khu Việt Bắc trong thời gian kháng chiến chống Pháp, cùng với Đại tướng Võ Nguyên Giáp và đồng chí Trường Chinh, sau này là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ở rừng, Hồ Chủ tịch chủ trương tránh ăn no, không ngủ trưa và hoạt động thân thể, buổi sáng thể dục, buổi chiều làm vườn, lúc cần đi vác củi cho đồng bào. Suốt trong thời gian ở thượng du Bắc Bộ, trước cuộc khởi nghĩa, nhiều ngày Người luôn tay nắm một hòn đá tròn bầu dục, cốt để luyện gân tay và hoạt động cơ thể. Người ít ưa dùng thuốc, chỉ lúc nào sức cơ thể chống không nổi bệnh thì mới dùng. Ở Hà Nội, bác sĩ Tùng, bác sĩ Cẩn chuyên lo sức khoẻ của Người, nhưng không mấy khi Người phiền đến. Ở Pháp, anh em buộc bác sĩ Cưu ở bên cạnh Người, nhưng rồi bác sĩ làm việc văn phòng nhiều hơn việc thầy thuốc. Sinh hoạt chiến khu thường cực lắm. Có lần suốt mấy tháng mùa mưa, Hồ Chủ tịch ở trong một cái hang chật hẹp, ẩm thấp, ban đêm sâu bọ ở ngoài tràn vào. Lúc ấy vì cơ sở quần chúng kém, nên phải ẩn nấp trong hang cùng, và cũng vì cơ sở quần chúng kém, nên dẫu ẩn núp trong hang cùng mà cũng không yên, thường vẫn phải chạy “cảnh báo”. Hễ có “cảnh báo” là phải mang hết đồ đạc chạy lánh đến một chỗ an toàn hơn. Lúc ấy Hồ Chủ tịch yếu, nhưng bất kỳ đêm ngày, hễ có tin địch là mấy phút sau Người đã sẵn sàng trước anh em, tay xách máy chữ.
Lúc đến Pháp, ngay hôm gặp đầu tiên, lối ăn ở giản dị của Hồ Chủ tịch làm cho kiều bào rất cảm động. Hôm ấy tại Biarít, đại biểu kiều bào đến thăm Người, hồi hộp và sung sướng. Khách đông, phòng khách không đủ ghế ngồi, giản dị Hồ Chủ tịch ngồi xuống sàn và mời mọi người ngồi thế nói chuyện. Đây không phải vị Chủ tịch Chính phủ, đây là Cha già của dân tộc ân cần và thân mật hỏi thăm đàn con bao năm lưu lạc ở quê người.
Hồ Chủ tịch, người giản dị ấy, cũng là người lịch sự một cách thanh tao cao quý và mọi người ngoại quốc có dịp tiếp chuyện Người đều ca ngợi cái phong độ thanh tao cao quý mà họ cho là đặc sắc của người phương Đông. Ở chiến khu, trong cơ quan, Hồ Chủ tịch thường mặc một bộ đồ xanh, chân đi đất; về Hà Nội, Người mặc một bộ đồ kaki, chân đi giầy vải. Nhưng sang Pháp thì Người mang giầy da và mặc một bộ đồ nỉ, cổ đứng. Ở Pari, có ngày Hồ Chủ tịch tiếp luôn ba bữa cơm khách, bữa sáng với bạn thân, bữa trưa với khách thường, bữa tối với khách đặc biệt, mỗi bữa có khi kéo dài ba tiếng đồng hồ, nhưng Hồ Chủ tịch thuỷ chung vẫn ân cần niềm nở.
Hồ Chủ tịch rất vui tính, vì vốn có cái tính lạc quan của những người quyết chiến quyết thắng ngày nay và quyết xây đắp đời sống tốt đẹp cho dân tộc ngày mai. Trong những bữa cơm, tiệc trà thân mật giữa nhân viên cao cấp Chính phủ, Hồ Chủ tịch vui thú, nói chuyện, làm thơ, khôi hài. Một đôi khi, Người thoạt đến những buổi dạ hội tưng bừng ở Nhà hát Lớn Hà Nội, các cháu thiếu nhi quây quần lại, nhưng một lát sau, Người nhẹ bước biến đi đâu mất. Người thích hoa và có kể câu chuyện ở Nga cũng như ở các nước Âu, Mỹ, người ta dùng máy bay chở các thứ hoa ở xa về để trang điểm đời sống hằng ngày ở các đô thị lớn. Nhưng trong vườn hoa Chủ tịch phủ, hoa ngày càng nhường chỗ cho khoai, bắp. Gần Côn Minh, có núi Tây Sơn, một thắng cảnh có tiếng; một hôm anh em muốn đi xem, Hồ Chủ tịch bảo: “Nếu tiện lắm sẽ hay; chúng ta là người cách mạng chứ không phải kẻ du lịch”.
Đời sống của Hồ Chủ tịch là một đời sống khắc khổ, cần lao và tranh đấu. Người lãnh tụ của một dân tộc mất nước không thể có một đời sống khác. Phải khắc khổ, cần lao và tranh đấu để mưu cầu hạnh phúc ngày mai. Có người e đời sống nghiêm khắc ấy không còn chỗ cho tình cảm. Nhưng chính Hồ Chủ tịch thường nói: người cách mạng là người rất giàu tình cảm, và vì giàu tình cảm nên làm cách mạng. Người mà cả dân tộc tôn làm vị Cha già của mình phải có lòng thương mênh mông xúc động đến tâm can của mọi người. Trong thời kỳ bí mật, phút mặc niệm chiến sĩ cách mạng là lúc Hồ Chủ tịch rơi nước mắt. Tại Quốc hội, Hồ Chủ tịch vừa khóc vừa ôm hôn anh Nguyễn Văn Tạo sau khi anh đọc một bài diễn văn thống thiết về Nam Bộ.

Người xưa nói: Có việc phải lo, lo trước thiên hạ, có việc đáng vui, vui sau thiên hạ. Hồ Chủ tịch nói một cách giản dị và thống thiết hơn: Một ngày "đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên"2 .
Câu nói đó đã bộc lộ tâm trạng Người, mối tình cảm ruột thịt bao bọc trăm họ của đại gia đình Việt Nam.
Đối với người giản dị và lão thực ấy, một câu nói là một việc làm và có làm thì mới nói. Giản dị và lão thực trong sự ăn ở, tính tình trong lời nói, viết, Người cũng giản dị và lão thực trong chủ trương chính trị nữa. Dân tộc Việt Nam bây giờ muốn gì? Muốn thống nhất, độc lập, muốn no ấm, muốn biết chữ, muốn đời sống bớt tối tăm. Cho nên Hồ Chủ tịch chủ trương: đoàn kết kháng chiến, tăng gia sản xuất, bình dân học vụ, đời sống mới. Dân tộc Việt Nam quyết tâm và mỗi ngày tiến mạnh trên con đường sống còn sau lưng Hồ Chủ tịch.
Hồ Chủ tịch thật là hiện thân của dân tộc Việt Nam và mọi người Việt Nam đều thấy mình trong Hồ Chủ tịch.
Sức mạnh của Hồ Chủ tịch và sức mạnh của dân tộc Việt Nam là ở chỗ đoàn kết thống nhất ấy.
Hình ảnh của dân tộc
Sự nghiệp vĩ đại của Hồ Chủ tịch trong 35 năm vừa qua là dìu dắt dân tộc Việt Nam đến chỗ đoàn kết nhất trí, quyết tâm chiến đấu chống kẻ thù không đội trời chung của dân tộc.
Cuộc kháng chiến thần thánh ngày nay phát huy và biểu dương tới cực độ tinh thần đoàn kết và chiến đấu ấy.
Thực hiện được sự đoàn kết toàn dân là sự nghiệp to lớn trên con đường tranh thủ độc lập của dân tộc Việt Nam. Đó là một yếu tố quyết định sự thắng lợi của cuộc kháng chiến ngày nay, sự thành công của cuộc kiến quốc ngày mai. Nhìn ngược lại lịch sử 80 năm mất nước, chúng ta thấy ngay sau khi quân Pháp xâm lược bờ cõi ta, dân tộc ta đã đứng lên chống giặc, nhưng lúc dân đương đánh thì vua quỳ gối đầu hàng. Vua đầu hàng, vua làm tay sai cho giặc, dân vẫn chống và dùng mọi phương pháp để chống, nhưng chỉ biết mạnh ai nấy chống, mạnh đâu đấy chống, toàn quốc, toàn dân không đồng tâm nhất trí đã đành, tại nơi chống, trong hàng ngũ người chống cũng thiếu đồng tâm nhất trí nữa. Đó là tình trạng của thời kỳ Cần Vương, trước cuộc Chiến tranh đế quốc (1914-1918)3. Từ lúc Hồ Chủ tịch đứng ra hoạt động và lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam, Hồ Chủ tịch chăm lo việc đoàn kết, tổ chức lực lượng nhân dân để chiến đấu, rồi Hồ Chủ tịch tiến dần đến việc đoàn kết toàn dân, tổ chức lực lượng toàn dân để chiến thắng.

Hồ Chủ tịch thành công trong sự nghiệp to lớn này vì Hồ Chủ tịch tiêu biểu cho nước Việt Nam, cho dân Việt Nam. Nguyện vọng tối cao của nước, nguyện vọng thiết tha nhất của dân là nguyện vọng của Người, là lẽ sống, đời hoạt động của Người. Chính sách, chủ trương chính trị của Người là để thực hiện nguyện vọng ấy: tranh thủ độc lập cho nước, tự do, hạnh phúc cho dân. Nhìn vào chính sách và chủ trương ấy, quốc dân hoàn toàn tín nhiệm và tin tưởng. Uy tín của Hồ Chủ tịch căn bản là ở chỗ đó. Nhưng giữa Hồ Chủ tịch và dân tộc Việt Nam, mối quan hệ còn mật thiết nồng nàn hơn: đó là mối quan hệ tình cảm, lòng tương thân tương ái của Hồ Chủ tịch đối với dân tộc Việt Nam và của dân tộc Việt Nam đối với Hồ Chủ tịch.
Nước Việt Nam, cũng như các nước trên thế giới có người giàu, kẻ nghèo, có đảng phái, tôn giáo, dân tộc khác nhau, nhưng nước Việt Nam ngày nay, nước Việt Nam kháng chiến của Hồ Chủ tịch không có hiện tượng đảng phái đấu tranh, tôn giáo xung đột, dân tộc cừu thị, không có hiện tượng nội bộ mâu thuẫn để quân thù lợi dụng chia rẽ, nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn. Được thế không phải chỉ vì chính sách, chủ trương của Hồ Chủ tịch thích hợp với ý nguyện của dân tộc, không phải chỉ vì con đường Hồ Chủ tịch là con đường sống duy nhất của dân tộc trước nguy cơ diệt vong ngày nay, được thế cũng là vì lòng Hồ Chủ tịch rộng như biển cả, bao dung, cảm hoá tất cả mọi người, dìu dắt mọi người đoàn kết chiến đấu.

Quảng đại quần chúng Việt Nam, già trẻ, trai gái, đều kính yêu Hồ Chủ tịch. Người trí thức, nhà tư sản dân tộc, các bậc nhân sĩ, giáo sĩ rất tin tưởng nơi Người. Người là bạn chí thân của cụ Huỳnh, là Bác Hồ của các cháu thiếu nhi. Đồng bào Nam Bộ, bộ phận giàu tình cảm nhất của dân tộc gọi Chủ tịch là Cha già, đó là lời tận trong đáy lòng kính mến thốt ra. Anh em thượng du miền Nam Trung Bộ đối với Hồ Chủ tịch cảm thấy quen lắm, gần lắm, dường như Hồ Chủ tịch ở đâu bên cạnh, đêm ngày phù hộ.
Đối với kẻ lầm đường lạc lối, lòng Hồ Chủ tịch còn rộng hơn biển cả. Người dạy phải khoan hồng, vui mừng đến rước những đứa con vì cảnh ngộ mà lạc bầy. Chúa Giêsu nói: “Gặp một người có tội lỗi mà hối cải thì trên trời vui mừng hơn gặp chín mươi chín vị tu hành”. Hồ Chủ tịch tin rằng người Việt Nam nào cũng yêu nước, muốn nước thống nhất, độc lập, ta khéo nhen chút than hồng ấy, nó sẽ cháy lên thành ngọn lửa.
Hồ Chủ tịch không chỉ chủ trương kêu gọi đoàn kết, mà ngày đêm thực hiện sự đoàn kết ấy. Hơn nữa, Hồ Chủ tịch tiêu biểu cho sự đoàn kết, chính Hồ Chủ tịch là sự đoàn kết ấy.
*
* *
Đoàn kết là để chiến đấu, Hồ Chủ tịch đoàn kết toàn thể dân tộc Việt Nam để phát huy tất cả sức chiến đấu của dân tộc Việt Nam. Không có sức chiến đấu ấy thì không giành được độc lập.
Dân tộc Việt Nam vốn có tinh thần chiến đấu. Lịch sử 80 năm nô lệ là lịch sử 80 năm chiến đấu. Lịch sử 80 năm chiến đấu ấy là một khúc ca hùng tráng mãi mãi lưu truyền trong ký ức người Việt Nam. Nhưng chiến đấu cao siêu, anh dũng bao nhiêu thì càng bộc lộ sự thiếu sót đau đớn bấy nhiêu, thiếu chính trị thích hợp, thiếu tổ chức, phương pháp. Sau cuộc Chiến tranh đế quốc (1914-1918), dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch, cuộc chiến đấu của dân tộc một mặt tiến dần đến chỗ nhằm đúng mục tiêu, có tổ chức, có phương pháp, một mặt lan dần khắp toàn quốc, toàn dân, cho đến cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, cho đến cuộc trường kỳ kháng chiến ngày nay.
Dân tộc Việt Nam đã kháng chiến một nghìn ngày rồi và sẽ kháng chiến lâu dài nữa. Đối với ta, kháng chiến là cơm bữa, nên không thấy cái lạ lùng của nó. Một dân tộc nhỏ yếu, lạc hậu về kinh tế và văn hoá, 80 năm ở trong tay người, đứng lên đánh lại một đế quốc bao phen xưng hùng bá trên thế giới, mà lại càng đánh càng mạnh, càng tiến bộ, càng gần thắng lợi.
Vậy bí quyết của cuộc kháng chiến Việt Nam là cái gì? Bí quyết là tinh thần chiến đấu của dân tộc do Hồ Chủ tịch phát huy, rèn luyện và hướng dẫn.
Cuộc kháng chiến thần thánh của Việt Nam ngày nay biểu dương tinh thần chiến đấu của toàn thể dân tộc đến cực độ. Nhân vật trung tâm là người công nhân, người vác trên hai vai gánh nặng của cuộc kháng chiến. Bên cạnh người công nhân là người nông dân, và các tầng lớp nhân dân địa vị xã hội khác nhau, tính tình tư tưởng khác nhau nhưng cùng nhau hy sinh phấn đấu, một lòng tin tưởng Tổ quốc, Chính phủ và Hồ Chủ tịch.
Hồ Chủ tịch thường dạy: Trong cuộc kháng chiến này dân ta phải lấy tinh thần chiến thắng vật chất, nghĩa là phải lấy tinh thần khắc phục bao nhiêu năm khổ cực, khó khăn, trở ngại. Nghĩa là dùng tầm vông đánh xe tăng, ăn đói mặc rách mà trường kỳ kháng chiến.
Đó là bí quyết của cuộc chiến tranh kỳ diệu này.
Cuộc kháng chiến thần thánh này chứng minh thiên tài lãnh đạo của Hồ Chủ tịch và trí thông minh, trình độ già dặn của dân Việt Nam, khéo tiến, khéo thối, lúc mềm, lúc cứng, lấy sức nhỏ đánh sức to, lấy sức yếu địch sức mạnh, dần dần chuyển sức nhỏ ra sức to, sức yếu ra sức mạnh, quyết tâm và tin tưởng tiến đến thắng lợi cuối cùng.
Cuộc kháng chiến này là trận chung kết của cuộc vật lộn không ngớt giữa ta và thực dân Pháp ngót một thế kỷ nay. Nó động viên tất cả sức lực và tinh thần chiến đấu của dân tộc. Nó là kỳ công của Hồ Chủ tịch và dân tộc Việt Nam.
Hồ Chủ tịch phát huy được tất cả khả năng chiến đấu của dân tộc trong cuộc kháng chiến này vì Hồ Chủ tịch là người thừa kế di sản của công cuộc giải phóng từ trước đến nay. Hồ Chủ tịch tiêu biểu cho nước Việt Nam, cho dân Việt Nam bị áp bức và quật cường. Chính sách, chủ trương, con đường chính trị của Hồ Chủ tịch, là sông lớn, nơi hội tụ của nhiều suối nhỏ, sông con phát nguyên bất cứ ở nơi nào, vào lúc nào. Suối chảy thành sông, nhưng phải gặp sông thì suối mới khỏi khô cạn. Gặp sông, suối biến trong sông, cùng theo một hướng cùng chung một dòng, cùng nhuộm một màu với trời đất. Cả công cuộc dân tộc giải phóng Việt Nam, từ lúc vua Tự Đức bán nước cho thực dân Pháp, tuần tự tiến tới con đường tranh thủ độc lập cho nước, tự do, hạnh phúc cho dân, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch.
Trên cuộc tiến triển tuần tự này, một chặng đường, một bước đi đều có ý nghĩa của nó, đều là một yếu tố tạo nên sự thành tựu ngày nay. Có người chê Cần Vương đã chủ trương quân chủ. Cần Vương dạy trung với vua, nhưng ở Việt Nam lúc bấy giờ vua là nước. Từ đó đến nay, ngai vàng đã trôi theo dòng nước của thời cuộc. Bây giờ hết thời vua rồi, Hồ Chủ tịch chủ trương trung với nước; Hồ Chủ tịch giữ chữ trung, cũng như người hiểu rộng chữ hiếu, và trau dồi những mỹ đức cổ truyền của Việt Nam: cần, kiệm, liêm, chính... Hồ Chủ tịch khuyên chúng ta học mỹ đức ấy cũng như Người khuyến khích chúng ta học tinh thần anh dũng bất diệt của biết bao anh hùng Cần Vương: Nguyễn Thiện Thuật, Phan Đình Phùng.
Sức mạnh của Hồ Chủ tịch vững chắc lắm vì nguồn gốc nó ăn sâu trong lịch sử cách mạng của dân tộc ngót một thế kỷ nay.
Sức mạnh của Hồ Chủ tịch còn ăn sâu hơn nữa trong cả dĩ vãng của dân tộc.
Sức mạnh của dân tộc Việt Nam, sức mạnh của Hồ Chủ tịch ngày nay là sức mạnh của đà tiến triển từ muôn thuở. Ta lắng nghe sức mạnh ấy rạo rực trong người ta, thúc giục ta chiến đấu. Ta lắng nghe tiếng gọi của ông cha trong tiếng gọi của Hồ Chủ tịch: Lê Lợi chiến đấu mười năm, Trần Hưng Đạo chiến đấu năm năm...
Hồ Chủ tịch lãnh đạo công cuộc kháng chiến kiến quốc ngày nay thuận theo chiều tiến hoá của Việt Nam, đồng thời cũng thuận theo chiều tiến hoá của thế giới. Nước Việt Nam là một bộ phận của thế giới. Thế giới ấy trong khoảng 200 năm trở lại đây đã trải qua mấy cuộc cách mạng khổng lồ lay chuyển cả nền móng quốc gia, xã hội, làm nguồn gốc cho trào lưu dân chủ đương bành trướng khắp năm châu. Trào lưu dân chủ ấy là lực lượng không ai chiến thắng được. Thuận với nó thì sống còn, nghịch với nó thì diệt vong. Phong trào cách mạng Việt Nam sau cuộc Đại chiến thế giới lần thứ nhất đã hoà hợp nhịp tiến của mình với trào lưu dân chủ ấy. Cuộc kháng chiến Việt Nam hiện nay mỗi ngày mỗi biểu lộ sự quan hệ mật thiết giữa phong trào dân chủ Việt Nam và phong trào dân chủ thế giới vô cùng mạnh mẽ sau cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai.
Hồ Chủ tịch thường nói: Cuộc kháng chiến của chúng ta sẽ thắng lợi vì đó là một cuộc chiến tranh chính nghĩa được nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ. Cuộc cách mạng dân tộc giải phóng của ta, chế độ dân chủ cộng hoà của ta sẽ thành công căn bản là vì con đường đi của dân tộc Việt Nam, con đường chính trị của Hồ Chủ tịch thuận với chiều tiến hoá của nhân loại.
Lãnh đạo nước Việt Nam thuận với chiều tiến hoá ấy là sự nghiệp của Hồ Chủ tịch.
Tóm lại, Hồ Chủ tịch đã vận dụng tất cả sức lực và tài năng của dân tộc Việt Nam, áp dụng lý luận tiến bộ của thế giới văn minh để đoàn kết toàn dân theo đuổi trường kỳ kháng chiến, tranh thủ thống nhất và độc lập, thực hiện chế độ dân chủ cộng hoà. Đó là sự nghiệp ngày nay và ngày mai của Hồ Chủ tịch và đó cũng là sự nghiệp ngày nay, ngày mai của dân tộc Việt Nam, của mọi người Việt Nam.

Nguồn: Trích "Hồ CHủ tịch, hình ảnh của dân tộc, tinh hoa của thời đại", Nxb Sự thật, Hà Nội, 1974
“ Hỡi đồng bào cả nước,
Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.
Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi.
Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.
Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta. Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa.
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược.
Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu.
Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng.
Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng.
Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn.
Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kỳ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói.
Ngày 9 tháng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp. Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc là đầu hàng. Thế là chẳng những chúng không "bảo hộ" được ta, trái lại, trong 5 năm, chúng đã bán nước ta hai lần cho Nhật.
Trước ngày 9 tháng 3, biết bao lần Việt Minh đã kêu gọi người Pháp liên minh để chống Nhật. Bọn thực dân Pháp đã không đáp ứng lại thẳng tay khủng bố Việt Minh hơn nữa. Thậm chí đến khi thua chạy, chúng còn nhẫn tâm giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng.
Tuy vậy, đối với người Pháp, đồng bào ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng và nhân đạo. Sau cuộc biến động ngày 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, lại cứu cho nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật và bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ.
Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa.
Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về nước Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam.
Toàn dân Việt Nam, trên dưới một lòng kiên quyết chống lại âm mưu của bọn thực dân Pháp.
Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Têhêrăng và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam.
Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng Minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!
Vì những lẽ trên, chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng:
Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.
”
Tuổi 90 cận kề và mang bệnh tim đã 2 năm nay, trung tướng Đồng Sỹ Nguyên vẫn giữ được dáng vẻ oai phong và chất giọng hào sảng của vị Tư lệnh. Sau chiến tranh hơn 30 năm, từng mét đất, từng con đường trên dãy Trường Sơn vẫn rõ mồn một trong trí nhớ ông.
- Ý tưởng về tuyến đường chi viện vượt dãy Trường Sơn được hình thành như thế nào, thưa trung tướng?
- Đề xuất ý tưởng về tuyến đường chi viện là Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại tướng Võ Nguyên Giáp là kiến trúc sư, chỉ huy việc thực thi. Ngày 1/1/1959, với Nghị quyết của Bộ Chính trị, chúng ta đã chuyển cuộc đấu tranh thống nhất qua con đường chính trị thành vũ lực. 5 tháng sau, đúng vào ngày sinh nhật lần thứ 69 của Bác, Đoàn 559 ra đời, đường chi viện nối liền Bắc - Nam nhanh chóng hình thành. Đây là con đường chiến lược mang sức mạnh từ miền Bắc và các nước xã hội chủ nghĩa phối hợp miền Nam thực hiện cuộc kháng chiến trường kỳ.
Tuy nhiên, cần lưu ý là cho tới năm 1970, khi chưa bị hải quân Mỹ ngăn chặn, đường "Trường Sơn trên biển Đông" mới là tuyến hoạt động hiệu quả và vận chuyển phần lớn hàng chi viện cho miền Nam.
- Với hoàn cảnh khó khăn lúc bấy giờ, làm sao chúng ta có thể triển khai xây dựng tuyến đường quy mô như vậy?
- Theo phác thảo ban đầu, chúng ta tổ chức chi viện bằng đi bộ, gùi thồ. Nhưng sau một thời gian, phương thức này không hiệu quả. Đi bộ gần 2.000 km thì riêng việc nuôi quân vận tải đã quá vất vả nói gì đến chuyện chi viện. Sau 2 năm như vậy, chúng ta bắt đầu chuyển sang vận tải cơ giới.
Đến năm 1967, kết hợp các binh chủng phát triển thành tuyến chi viện hoàn chỉnh. Cũng từ đây, tuyến đường không chỉ mang ý nghĩa là một "đường dây vận tải chi viện" đơn thuần nữa mà đã chuyển thành một chiến trường đúng nghĩa - "Chiến trường Trường Sơn đường Hồ Chí Minh".
- Nhiều chuyên gia quân sự Mỹ đã đi hết bất ngờ này đến bất ngờ khác khi khám phá ra hệ thống chi viện phức tạp trên dãy Trường Sơn. Vậy khó khăn lớn nhất để đảm bảo bí mật và an toàn cho tuyến đường là gì?
- Thực ra, con đường chỉ bí mật hoàn toàn được 2 năm đầu, tức là lúc ta còn ở giai đoạn sơ khai đi bộ, gùi thồ. Khi chúng ta làm đường vận tải cơ giới thì không thể bí mật được nữa. Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh là đảm bảo an toàn cho các chuyến xe. Địch ra sức ngăn chặn bằng không quân, hàng rào điện tử McNamara, chất độc hóa học... Chúng tạo hàng ngàn trọng điểm, tập đoàn trọng điểm trên tất cả đường dọc và đường ngang.
Lúc đó ta cứ nghĩ đơn giản rằng "Địch đánh, ta sửa ta đi" nhưng cách thức này càng về sau càng thiếu hiệu quả. Ví dụ như sau 2 giờ địch đánh phá, ta phải mất ngần ấy thời gian để sửa đường để đi, rồi địch lại đánh phá, ta lại sửa... Tắc đường vì thế xảy ra thường xuyên, có khi cả tháng không chi viện được. Phương thức này vừa như "dã tràng xe cát biển Đông" vừa khiến quân ta thiệt hại nặng nề.
Đến năm 1967, sau khi tổ chức kiểm tra, rút kinh nghiệm trên toàn tuyến, chúng ta rút ra bài học là chỉ khi thắng được cuộc chiến tranh ngăn chặn tổng hợp thì mới chi viện hiệu quả được. Cũng từ đây, ta áp dụng hiệp đồng binh chủng, vừa chi viện, vừa đẩy lui địch trên chiến trường.
- Trung tướng nhắc nhiều đến "hiệp đồng binh chủng", vậy sự thay đổi này có ý nghĩa như thế nào đối với tuyến chi viện đường Trường Sơn?
- Thay đổi này có thể coi là một bước ngoặt. Nếu không thực hiện hiệp đồng binh chủng (hay binh chủng hợp thành), bảo vệ tuyến vận tải cơ giới thì việc chi viện sẽ không thể nào thoát khỏi bế tắc. Đoàn xe chi viện sẽ giống như những miếng mồi ngon dưới tầm ngắm của máy bay địch.
Từ năm 1967, từ thế phòng ngự bị động, ta chuyển sang chủ động dùng kế nghi binh, ngụy trang. Mỹ đánh bom trọng điểm, ta san lấp chuyển thành hố nghi binh ngụy trang khéo léo, thỉnh thoảng cho xe chạy qua để địch tiếp tục đánh phá. Địch thích đánh trọng điểm nào, ta càng tạo điều kiện, "kêu gọi" địch đánh vào đấy. Trong khi đó, ta mở thêm 2 tuyến song song bên cạnh, đoàn xe vì thế vô tư chạy qua.
Để làm được điều đó, ta đã tổ chức và phát triển binh chủng hợp thành bảo vệ tuyến vận tải cơ giới. Pháo binh, tên lửa như "lưới lửa" bảo vệ trên đầu đội hình tấn công của xe; công binh túc trực bên đường; bộ binh liên tục mở các chiến dịch đẩy địch ra xa.
Sau chiến dịch đường 9 Nam Lào 1971 và "Điện Biên Phủ trên không" 1972, chúng ta trở thành người làm chủ hoàn toàn trên chiến trường Trường Sơn. Tuyến chi viện trở nên thông suốt và cực kỳ hiệu quả. Lúc cao điểm, trên toàn tuyến có tới 9 sư đoàn trong đó 8 sư đoàn trực thuộc Bộ Tư lệnh quân khu Trường Sơn. Đội quân hùng hậu này không chỉ đảm bảo chi viện thông suốt mà còn là lực lượng dự bị chiến lược để tăng cường cho các chiến dịch khác.
- Đường Trường Sơn được người Mỹ mệnh danh là "trận đồ bát quái xuyên rừng rậm". Tại sao lại có tên gọi này, thưa trung tướng?
- Đường Trường Sơn là cái tên đơn giản nhất mà ta dùng trong suốt những năm chiến tranh. Kể cả "Đường mòn Hồ Chí Minh" hay "trận đồ bát quái" đều là những cụm từ do người Mỹ đặt ra. Tôi nhớ là họ gọi như vậy từ năm 1971. Theo tôi, cách đặt tên này chứng tỏ họ hiểu quy mô của tuyến đường.
Sau 16 năm xây dựng, tổng kết lại tuyến đường có 5 trục dọc, 21 trục ngang với tổng chiều dài 20.000 km như một trận đồ phủ kín dãy Trường Sơn, cả sườn Đông lẫn sườn Tây, xuyên 3 nước Đông Dương. Đó là còn chưa tính mạng đường trong các tỉnh và hàng ngàn km đường ống vận chuyển xăng dầu, đường giao liên hành quân bộ, đường dây thông tin...
Một lần anh Võ Văn Kiệt (lúc đó là Ủy viên thường vụ Trung ương Cục miền Nam) đi công tác ghé qua Sở chỉ huy của tôi tại Bộ Tư lệnh Trường Sơn, nói: "Nếu hôm nay không có mấy người dẫn đường thì tôi chịu không tìm được đường về Sở chỉ huy". Còn Quốc vương Campuchia Sihanouk khi đến thăm chúng tôi nói rằng, trước đây ông không hiểu nổi làm sao có thể chi viện cho miền Nam. "Đến đây rồi thì tôi biết Mỹ không tài nào thắng được các bạn".
- Trong 10 năm là Tổng tư lệnh tại chiến trường đường Trường Sơn, kỷ niệm nào là khó quên nhất với ông?
- Có lần tôi ngồi xe vận tải vượt trọng điểm đúng lúc địch thả pháo sáng để oanh kích. Tuy nhiên, đồng chí lái xe vẫn phóng xe băng băng qua, miệng vừa huýt sáo vừa hát. Trong khi trước đó, khi chưa bố trí được thế trận hợp đồng binh chủng gặp tình huống này, lái xe của ta liền đánh xe vào bụi rậm tránh. Tôi hỏi tại sao trước đây tránh mà bây giờ vui vẻ thế thì chú lái xe cười, chỉ tay ra ngoài cửa xe. Lúc đó, pháo phòng không và tên lửa ta bắn trả như pháo hoa.
"Chúng em bây giờ không còn đơn thương độc mã trên tuyến đường nữa thủ trưởng ạ, có "pháo hoa Hồ Hoàn Kiếm" bảo vệ trên đầu, sợ gì mà không đi", chiến sĩ này nói với tôi. Giây phút đó tôi lâng lâng một niềm vui khó tả. Chúng ta đã thực sự làm chủ được chiến trường này và cảm giác như ngày thắng lợi không còn xa.
- Theo ông, nếu không có tuyến đường này, cục diện cuộc chiến tranh giải phóng của chúng ta sẽ như thế nào?
- Tôi tin là chúng ta sẽ vẫn giành chiến thắng. Tuy nhiên, tuyến đường đã đưa ngày thống nhất đến sớm hơn rất nhiều. Nhiều chuyên gia quân sự Mỹ sau này bình luận, sở dĩ Mỹ thất bại ở Việt Nam là do không ngăn chặn được tuyến chi viện từ miền Bắc.
- Nếu như được quay trở lại hoàn cảnh thời đó, ông có thay đổi gì về cách triển khai xây dựng, sắp xếp các tuyến đường hay tổ chức vận chuyển tiếp tế?
- Thực ra, việc tổ chức tuyến chi viện xuyên dãy Trường Sơn của chúng ta là một hình mẫu độc nhất vô nhị trên thế giới. Ta vừa làm, vừa học nên không tránh khỏi những thiệt hại, mất mát. Chúng ta mất nhiều năm sa lầy vào tổ chức tuyến chi viện theo kiểu độc đạo mà không nghĩ đến việc làm đường vòng, đường tránh, đường nghi binh... Ngoài ra, việc xây dựng cầu, đường của chúng ta cũng chưa thích hợp như làm cầu nổi (sau chuyển sang làm cầu dưới mặt nước), đường dã chiến mà thiếu đường rải đá, đường có mặt cứng...
Ngoài ra, một bài học lớn khác là chậm áp dụng sức mạnh tổng hợp, chậm tổ chức binh chủng hợp thành lấy vận tải cơ giới làm trung tâm. Nếu nhận ra điều này sớm hơn, có thể chúng ta còn giành thắng lợi nhanh chóng hơn và giảm thiểu thiệt hại.
chiến tranh cũng là điều đau xót. Ảnh: Nguyễn Hưng.
- Trung tướng có thể chia sẻ về điều tiếc nuối nhất trong quãng thời gian làm Tư lệnh tại chiến trường này?
- Bất kỳ một sự mất mát dù nhỏ nhất cũng khiến tôi đau lòng, dù hi sinh ít cũng là đáng tiếc. 16 năm tuyến đường hoạt động, 22.000 quân ta đã ngã xuống, trên 30.000 đồng chí khác nhiễm chất độc da cam mà di chứng đến ngày nay vẫn vô cùng nặng nề...
Đây là những điều khiến người ở cương vị chỉ huy như tôi vô cùng đau xót. Vẫn biết chiến tranh là đau thương, mất mát nhưng có sống và đối mặt với nó mới thấm thía.
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên (tên do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt) tên thật là Nguyễn Sỹ Đồng, sinh năm 1923. Ông là vị tư lệnh của Binh đoàn Trường Sơn trong thời gian lâu nhất (1967-1975) và là một trong hai vị tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam được phong quân hàm vượt cấp từ đại tá lên trung tướng. Sau chiến tranh, ông tiếp tục đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng khác như Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ GTVT, Phó thủ tướng...
Tên tuổi của ông luôn đi cùng với những kỳ tích như người tổ chức thế trận giao thông liên hoàn, giăng lưới lửa trên đỉnh Trường Sơn, hệ thống "trận đồ bát quái" ở Trường Sơn... Ông cũng là người đề xuất xây dựng nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn vào năm 1974, khi chiến tranh còn chưa kết thúc.
Tiểu sử
Gia đình và quê quán
Theo gia phả của dòng họ Nguyễn ở làng Kim Liên tại Nam Đàn, Nghệ An thì:
- "Hoàng sơ tổ khảo là Nguyễn Bá Phụ, tổ đời thứ hai là Nguyễn Bá Bạc, tổ đời thứ ba là Nguyễn Bá Ban, tổ đời thứ tư là Nguyễn Văn Dân,... tổ đời thứ năm, Nguyễn Sinh Vật là giám sinh đời Lê Thánh Đức (tức Lê Thần Tông) năm thứ ba..., tổ đời thứ sáu là Nguyễn Sinh Tài đỗ hiếu sinh khi 17 tuổi, năm 34 tuổi đỗ tam trường khoa thi Hội..., tổ đời thứ 10 là Nguyễn Sinh Nhậm[3])." Cả bốn đời đầu tiên của dòng họ đều chưa lấy đệm là "Sinh" và không rõ năm sinh, năm mất[4].
Ông tên thật là Nguyễn Sinh Cung (阮生恭, giọng địa phương phát âm là Côông), tự là Tất Thành[5]. Quê nội là làng Kim Liên (tên nôm là làng Sen). Ông được sinh ra ở quê ngoại là làng Hoàng Trù (tên nôm là làng Chùa, nằm cách làng Sen khoảng 2 km) và sống ở đây cho đến năm 1895. Hai làng này vốn cùng nằm trong xã Chung Cự, thuộc tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn. Quê nội của ông, làng Kim Liên[6] là một làng quê nghèo khó. Phần lớn dân chúng không có ruộng, phải làm thuê cấy rẽ, mặc quần ít, đóng khố nhiều, bởi thế nên làng này còn có tên là làng Đai Khố[7]. Vào đời ông, phần lớn dòng họ của ông đều cơ hàn, kiếm sống bằng nghề làm thuê, và cũng có người tham gia các hoạt động chống Pháp[8].
Thân phụ ông là một nhà nho tên là Nguyễn Sinh Sắc, từng đỗ phó bảng[9]. Thân mẫu là bà Hoàng Thị Loan. Ông có một người chị là Nguyễn Thị Thanh, một người anh là Nguyễn Sinh Khiêm (tự Tất Đạt, còn gọi là Cả Khiêm) và một người em trai mất sớm là Nguyễn Sinh Nhuận (1900-1901, tên khi mới lọt lòng là Xin).
Theo lý lịch chính thức, Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890, tuy nhiên có những thông tin khác không đồng nhất:
- Trong đơn xin học Trường hành chính thuộc địa, năm 1911, ông tự ghi là sinh năm 1892.
- Năm 1920, ông khai với một quận cảnh sát tại Paris ngày sinh của mình là 15 tháng 1 năm 1894.
- Theo một tài liệu do Phòng nhì Pháp lập năm 1931, có sự xác nhận của một số nhân chứng làng Kim Liên, quê nội của ông, thì ông sinh tháng 4 năm 1894.
- Trong tờ khai của ông tại Đại sứ quán Liên Xô ở Berlin, vào tháng 6 năm 1923, thì ngày sinh là 15 tháng 2 năm 1895.
Tuổi trẻ
Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng cha mẹ và anh trai vào Huế lần đầu tiên. Sau khi mẹ mất (1901), ông về Nghệ An ở với bà ngoại một thời gian ngắn rồi theo cha về quê nội, từ đây ông bắt đầu dùng tên Nguyễn Tất Thành. Tất Thành theo học cử nhân Hoàng Phạm Quỳnh và một số ông giáo khác[10].
Năm 1906, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế lần thứ hai và học ở trường tiểu học Pháp-Việt Đông Ba. Tháng 9 năm 1907, ông vào học tại trường Quốc học Huế, nhưng bị đuổi học vào cuối tháng 5 năm 1908 vì tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ[11]. Cha ông bị triều đình khiển trách vì "hành vi của hai con trai". Hai anh em Tất Đạt và Tất Thành bị giám sát chặt chẽ. Ông quyết định vào miền Nam để tránh sự kiểm soát của triều đình.
Đầu năm 1910, Nguyễn Tất Thành vào đến Phan Thiết. Ông dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ cho học sinh lớp ba và tư tại trường Dục Thanh của hội Liên Thành[12][13]. Khoảng trước tháng 2 năm 1911, ông nghỉ dạy và vào Sài Gòn. Tại đây, ông theo học trường Bá Nghệ là trường đào tạo công nhân hàng hải và công nhân chuyên nghiệp cho xưởng Ba Son. Ở đây, ông được nuôi ăn nhưng chỉ học 3 tháng thì bỏ khi nhận ra rằng phải học 3 năm mới thành nghề[14]. Ông quyết định sẽ tìm một công việc trên một con tàu viễn dương để được ra nước ngoài.
Hoạt động ở nước ngoài
- Bài chi tiết: Hoạt động của Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1911-1941
Thời kì 1911-1919
Ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ Bến Nhà Rồng, ông lấy tên Văn Ba, lên đường sang Pháp với nghề phụ bếp trên chiếc tàu buôn Đô đốc Latouche-Tréville, với mong muốn học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước phương Tây. Sau khi ở Hoa Kỳ một năm (cuối 1912-cuối 1913), ông quay trở lại nước Anh làm nghề cào tuyết, đốt lò rồi phụ bếp cho khách sạn. Cuối năm 1917, ông trở lại nước Pháp, sống và hoạt động ở đây cho đến năm 1923.
Thời kì ở Pháp
Ngày 19 tháng 6 năm 1919, thay mặt Hội những người An Nam yêu nước, Nguyễn Tất Thành đã mang tới Hội nghị Hòa bình Versailles bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm để kêu gọi lãnh đạo các nước Đồng Minh áp dụng các lý tưởng của Tổng thống Wilson cho các lãnh thổ thuộc địa của Pháp ở Đông Nam Á, trao tận tay tổng thống Pháp và các đoàn đại biểu đến dự hội nghị[15]. Bản yêu sách này do một nhóm các nhà ái quốc Việt Nam sống ở Pháp, trong đó có Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Tất Thành, cùng viết, và được ký tên chung là Nguyễn Ái Quốc[16]. Từ đây, Nguyễn Tất Thành công khai nhận mình là Nguyễn Ái Quốc[17] và sử dụng tên này trong suốt 30 năm sau đó[18].
Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lenin, từ đó ông đi theo chủ nghĩa cộng sản. Ông tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp tại Tours (từ 25 đến 30 tháng 12 năm 1920) với tư cách là đại biểu Đông Dương của Đảng Xã hội Pháp, ông trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp và tách khỏi đảng Xã hội. Năm 1921, ông cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa Pháp lập ra Hội Liên hiệp Thuộc địa (Union intercoloniale - Association des indigènes de toutes les colonies) nhằm tập hợp các dân tộc bị áp bức đứng lên chống chủ nghĩa đế quốc. Năm 1922, ông cùng một số nhà cách mạng thuộc địa lập ra báo Le Paria (Người cùng khổ), làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, nhằm tố cáo chính sách đàn áp, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc nói chung và thực dân Pháp nói riêng. Tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp" bằng tiếng Pháp (Procès de la colonisation française) do Nguyễn Ái Quốc viết được xuất bản năm 1925, đã tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa.
Thời kì ở Liên Xô lần thứ nhất
Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Moskva học tập tại trường Đại học Phương Đông. Tại đây ông đã dự Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân (họp từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 10 năm 1923), ông được bầu vào Ban chấp hành và Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân. Tại Đại hội lần thứ 5 Quốc tế Cộng sản (họp từ ngày 17 tháng 6 đến ngày 8 tháng 7 năm 1924), ông được cử làm ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam.
Thời kì ở Trung Quốc (1924-1927)
Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Quảng Châu, lấy tên là Lý Thụy, làm phiên dịch trong phái đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Trung Hoa Dân quốc, do Mikhail Markovich Borodin làm trưởng đoàn.
Năm 1925, ông thành lập tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Quảng Châu (Trung Quốc) để truyền bá chủ nghĩa Marx-Lenin (thường được phiên âm là Mác–Lê-nin) vào Việt Nam[cần dẫn nguồn]. Cuốn Đường Kách mệnh, mà ông là tác giả, tập hợp các bài giảng tại các lớp huấn luyện chính trị của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, được xuất bản năm 1927.
Trong thời gian ở Quảng Châu, ông đã kết hôn với một hộ lý Trung Quốc tên là Tăng Tuyết Minh, (ngày 18 tháng 10 năm 1926) và sống với nhau cho đến khi ông rời Quảng Châu, vào khoảng tháng 4 hoặc 5 năm 1927. Sau khi ông đã trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cả hai người đã tìm nhau thông qua tổ chức Đảng Cộng sản Trung Quốc và cơ quan ngoại giao Việt Nam tại Trung Quốc nhưng không thành công.[19][20]
Cùng năm 1925, ông tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông, do Liêu Trọng Khải, một cộng sự thân tín của Tôn Dật Tiên, làm hội trưởng và ông làm bí thư. Do Tưởng Giới Thạch khủng bố các nhà cách mạng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam, ông rời Quảng Châu đi Hương Cảng, rồi sang Liên Xô. Tháng 11 năm 1927, ông được cử đi Pháp, rồi từ đó đi dự cuộc họp Đại hội đồng của Liên đoàn chống đế quốc từ ngày 9 đến ngày 12 tháng 12 năm 1927 tại Brussel, Bỉ.
Những năm 1928, 1929
Mùa thu 1928, ông từ châu Âu đến Thái Lan, với bí danh Thầu Chín để tuyên truyền và huấn luyện cho Việt kiều.
Cuối năm 1929, ông rời Thái Lan sang Trung Quốc.
Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, tại Cửu Long (九龍, Kowloon) thuộc Hương Cảng, ông thống nhất ba tổ chức đảng cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đó đổi tên là "Đảng Cộng sản Đông Dương", rồi đổi thành "Đảng Lao Động Việt Nam" và nay là "Đảng Cộng sản Việt Nam").
Tháng 3 năm 1930, ông trở lại Thái Lan trong một thời gian ngắn, sau đó quay lại Trung Hoa.
Những năm 1931 - 1933
Năm 1931, dưới tên giả là Tống Văn Sơ (Sung Man Ch'o), Nguyễn Ái Quốc bị nhà cầm quyền Hương Cảng bắt giam với ý định trao cho chính quyền Pháp ở Đông Dương. Tờ L'Humanité số ra ngày 9 tháng 8 năm 1932 đưa tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong trạm xá nhà tù tại Hồng Kông đồng thời tố cáo đây là âm mưu của thực dân Pháp câu kết với thực dân Anh nhằm ám sát người lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương[21]. Nhưng sau đó nhờ sự biện hộ và giúp đỡ tận tình của luật sư Frank Loseby[22], Tống Văn Sơ được thả ngày 28 tháng 12 năm 1932. Ông đi Thượng Hải rồi bí mật quay trở lại Liên Xô.
Thời kì ở Liên Xô lần thứ hai
Ông đến Moskva vào mùa xuân năm 1934. Với bí danh Lin, Nguyễn Ái Quốc học ở Trường Quốc tế Lenin (1934-1935). Ông dự Đại hội lần thứ 7 Quốc tế Cộng sản (từ ngày 25 tháng 7 đến ngày 20 tháng 8 năm 1935) với vai trò quan sát viên của ban thư ký Dalburo với tên Linov[23]. Theo tài liệu của một số nhà sử học, ông bị buộc ở Liên Xô cho đến năm 1938 và bị giam lỏng ở đó do bị nghi ngờ về lý do ông được nhà cầm quyền Hương Cảng trả tự do[24]. Trong những năm 1931-1935, ông đã bị Trần Phú và sau đó là Hà Huy Tập phê phán về đường lối cải lương "liên minh với tư sản và địa chủ vừa và nhỏ", không đúng đường lối đấu tranh giai cấp của Quốc tế Cộng sản[25][26].
Từ năm 1938 đến đầu năm 1941
Năm 1938, ông trở lại Trung Quốc. Trong vai thiếu tá Bát Lộ quân Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc đến công tác tại văn phòng Bát Lộ quân Quế Lâm, sau đó đi Quý Dương, Côn Minh rồi đến Diên An, căn cứ đầu não của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hồng quân Trung Quốc mùa đông 1938.
Trở về Việt Nam
Ông trở về Việt Nam vào ngày 28 tháng 1 năm 1941[27], ở tại hang Cốc Bó, bản Pác Bó, tỉnh Cao Bằng với bí danh Già Thu. Tại đây, ông mở các lớp huấn luyện cán bộ[28], cho in báo, tham gia các hoạt động thường ngày... Tài liệu huấn luyện và tuyên truyền chủ yếu là sách do ông dịch và viết về nhiều chủ đề. Tại cuối một cuốn sách như vậy ông ghi "Việt Nam độc lập năm 1945"[29]. Ông cho lập nhiều hội đoàn nhân dân như hội phụ nữ cứu quốc, hội phị lão cứu quốc, hội nông dân cứu quốc...
Tháng 5 năm 1941, hội nghị mở rộng lần thứ 8 của Trung ương Đảng họp ở Cao Bằng và quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh). Ông là chủ tọa.
Từ khi bị giam ở Trung Quốc cho tới ngày 2 tháng 9 năm 1945
Ngày 13 tháng 8 năm 1942, ông lấy tên Hồ Chí Minh, sang Trung Quốc với danh nghĩa đại diện của cả Việt Minh và Hội quốc tế phản xâm lược Việt Nam (một hội đoàn được ông tổ chức ra trước đó) để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Hoa Dân quốc. Đây là lần đầu tiên trong các giấy tờ cá nhân ông sử dụng tên Hồ Chí Minh, tuy vậy ông lại khai nhân thân là "Việt Nam-Hoa kiều"[30].
Ông bị chính quyền địa phương của Trung Hoa Dân quốc bắt ngày 29 tháng 8 khi đang đi cùng một người Trung Quốc dẫn đường và giam hơn một năm, trải qua khoảng 30 nhà tù. Ông viết Nhật ký trong tù trong thời gian này (từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943). Các đồng chí của ông (Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Vũ Anh...) ở Việt Nam tưởng lầm là ông đã chết (sau này nguyên nhân được làm rõ là do một cán bộ Cộng sản tên Cáp nghe và hiểu sai ngữ nghĩa)[31]. Họ thậm chí đã tổ chức đám tang và đọc điếu văn cho ông (Phạm Văn Đồng làm văn điếu) cũng như "mở chiếc va-li mây của Bác ra tìm xem còn những gì có thể giữ lại làm kỉ niệm" (lời của Võ Nguyên Giáp). Vài tháng sau họ mới biết được tình hình thực của ông sau khi nhận được thư do ông viết và bí mật nhờ chuyển về.
Sau khi được trả tự do ngày 10 tháng 9 năm 1943, Hồ Chí Minh tham gia Ban Chấp hành Trung ương Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội. Từ trước đó, Việt Minh cũng đã ra tuyên bố ủng hộ Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội. Ông cũng cố gắng tranh thủ Trương Phát Khuê, tướng cai quản vùng Quảng Đông và Quảng Tây của Quốc Dân Đảng, nhưng kết quả là hạn chế.
Cuối tháng 9 năm 1944, ông trở về Việt Nam. Khi này các đồng chí của ông ở Liên tỉnh ủy Cao-Bắc-Lạng như Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng... đã quyết định tiến hành phát động chiến tranh du kích trong phạm vi liên tỉnh. Ông ngăn chặn thành công quyết định này[32]. Thay vào đó, ông ra lệnh tổ chức lập lực lượng vũ trang và căn cứ địa cho chặt chẽ và hiệu quả hơn. Ông trực tiếp ra chỉ thị thành lập một đội quân mang tính chính thống và chính quy là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, với 34 đội viên là các tiểu đội trưởng, trung đội trưởng hoặc thành viên của các đội quân nhỏ bé và rải rác trước đó của Việt Minh. Cuối năm 1944, ông lại trở lại Côn Minh hoạt động cho tới đầu năm 1945.
Ngay trước khi Hội nghị Tân Trào họp vào tháng 8 năm 1945, ông ốm suýt chết[33].
Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Đại hội quốc dân tại Tân Trào (Tuyên Quang), cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng tức Chính phủ lâm thời, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch.
Giai đoạn lãnh đạo
Từ Độc lập tới Toàn quốc kháng chiến
Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 trên quảng trường Ba Đình tại Hà Nội, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông trích dẫn bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ và bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Pháp để mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam[34].
Ông gửi thư cho nhiều nguyên thủ quốc gia trên thế giới kêu gọi công nhận nhà nước Việt Nam mới được thành lập cũng như tranh thủ sự ủng hộ nhưng không nhận được hồi âm (Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman[35], Stalin, Tổng thống Pháp Léon Blum, bộ trưởng Thuộc địa Pháp Marius Moutet và Nghị viện Pháp...).
Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Pháp tấn công Sài Gòn. Quân dân Sài Gòn cấp tập chống cự. Ủy ban kháng chiến Nam Bộ được thành lập với Trần Văn Giàu là chủ tịch. Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ điện ra Trung ương xin cho được đánh. Chính phủ ra huấn lệnh, bản thân ông gửi thư khen ngợi "lòng kiên cường ái quốc của đồng bào Nam Bộ"[cần dẫn nguồn].
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, tổng tuyển cử tự do trong cả nước được tổ chức, bầu ra Quốc hội và Quốc hội thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc hội khóa I của Việt Nam đã cử ra Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Đại biểu quốc hội chủ yếu là nhân sĩ trí thức, người ngoài Đảng. Ông trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và với chức danh Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông cũng đảm nhiệm luôn công việc của thủ tướng. Chính phủ này, cho tới cuối năm 1946, đã trải qua 3 lần thay đổi cơ cấu và nhân sự vào các thời điểm: ngày 1 tháng 1; tháng 3; và ngày 3 tháng 11.
Nhà nước và chính phủ của ông đối mặt với hàng loạt khó khăn cả về đối nội và đối ngoại. Về đối ngoại, khi này Việt Nam chưa được bất cứ quốc qia nào công nhận [36], không phải thành viên Liên hiệp quốc[37], cũng như không nhận được sự ủng hộ nào về vật chất của các nước cộng sản khác. Ngoài 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc, còn có quân Anh và quân Pháp (vào thời điểm toàn quốc kháng chiến, tháng 12 năm 1946, Pháp có quãng 6 vạn quân), và khoảng 6 vạn quân Nhật. Về đối nội, "giặc đói, giặc dốt" - như chính cách ông gọi - và ngân quỹ trống rỗng là những vấn đề hệ trọng nhất[38][39].
Bởi thế ông thi hành một chính sách đối ngoại mềm dẻo và nhẫn nhịn. Ông nói: "chính sách của ta hiện nay là chính sách Câu Tiễn, nhưng nhẫn nhục không phải là khuất phục"[40].
Với tập đoàn Tưởng Giới Thạch, ông chấp nhận sự hiện diện của Việt Cách, Việt Quốc trong các chính phủ liên tục được thay đổi, chấp nhận 70 ghế cho Việt Quốc, Việt Cách trong quốc hội không cần qua bầu cử. Ông cũng cung cấp gạo (ban đầu kiên quyết từ chối[41]) cho quân Tưởng. Quân Tưởng cũng được tiêu giấy bạc "kim quan" và "quốc tệ" tại miền Bắc. Trước đó, tháng 10 năm 1945, khi Hà Ứng Khâm, tổng tham mưu trưởng của quân đội Tưởng tới Hà Nội, hàng vạn người được huy động xuống đường, hô vang các khẩu hiệu "Ủng hộ chính phủ Hồ Chí Minh", "Ủng hộ chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa" để "đón tiếp".
Tháng 11 năm 1945, ông quyết định cho Đảng tự giải tán. Về mặt công khai, đảng của ông không còn hiện diện mà chỉ có một bộ phận hoạt động dưới danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương[42].
Ông kêu gọi các đảng viên nếu tự xét thấy mình không đủ phù hợp thì nên tự rút lui khỏi hàng ngũ lãnh đạo chính quyền[43].
Trước Quốc hội, ông tuyên bố: "Tôi chỉ có một Đảng - đảng Việt Nam"[44].
Theo Hiệp ước Pháp-Hoa, ký ngày 28 tháng 2 năm 1946, quân Pháp sẽ thay thế quân của Tưởng Giới Thạch. Một tuần sau, ngày 6 tháng 3 năm 1946, ông cùng Vũ Hồng Khanh ký với Jean Sainteny - Ủy viên Pháp ở miền bắc Ðông Dương - bản Hiệp định sơ bộ với Pháp, với 3 nội dung chủ chốt:
- Pháp công nhận Việt Nam "là một nước tự do, là một phần tử trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp". Trước đó, đàm phán căng thẳng khi ông muốn Việt Nam được công nhận là quốc gia độc lập và phản đối kịch liệt khi Pháp muốn dùng chữ "Quốc gia Tự trị" để mô tả tổ quốc của ông.
- Pháp được đưa 1,5 vạn quân ra Bắc thế cho quân Tưởng, nhưng phải rút trong 5 năm, mỗi năm rút 1 phần 5 quân số.
- Ngừng xung đột, giữ nguyên quân đội tại vị trí cũ.
Ngày 31 tháng 5 năm 1946, ông lên đường sang Pháp theo lời mời của chính phủ nước này; cùng ngày, phái đoàn chính phủ do Phạm Văn Đồng dẫn đầu cũng khởi hành. Trước khi đi, ông bàn giao quyền lãnh đạo đất nước cho Huỳnh Thúc Kháng[45] với lời dặn "Dĩ bất biến, ứng vạn biến"[46]. Tại Việt Nam, ông dự đoán thời gian ở Pháp là "...có khi một tháng, có khi hơn"[47] nhưng cuối cùng ông ở Pháp 4 tháng (Hội nghị Fontainebleau diễn ra từ 6 tháng 7 tới 10 tháng 9 năm 1946) mà không tránh khỏi thất bại chung cuộc.
Ngày 14 tháng 9 năm 1946, ông ký với đại diện chính phủ Pháp, bộ trưởng Thuộc địa Marius Moutet, bản Tạm ước (Modus vivendi), quy định đình chỉ chiến sự tại miền Nam, và thời gian tiếp tục đàm phán vào đầu năm 1947.
Thế nhưng những nhân nhượng đó cũng không tránh nổi chiến tranh. Sau khi nhận được liên tiếp 3 tối hậu thư của Pháp trong vòng chưa đầy một ngày, ông kí lệnh kháng chiến. Tối ngày 19 tháng 12 năm 1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến do ông chấp bút được phát trên đài phát thanh. 20h tối cùng ngày, kháng chiến bùng nổ.
Giai đoạn kháng chiến chống Pháp
Tháng 3 năm 1947, ông và Trung ương Đảng chuyển lên Việt Bắc. Ông kêu gọi nhân dân tiêu thổ kháng chiến, tản cư cũng là kháng chiến, phá hoại (cho Pháp không lợi dụng được) cũng là kháng chiến.
Ngày 2 tháng 2 năm 1950, Hồ Chí Minh kí sắc lệnh tổng phản công trong năm 1950. Tuy vậy, sau đó nội dung của sắc lệnh này đã bị bác bỏ. Những lệch lạc trong công tác so sánh lực lượng hai bên tham chiến của phía Việt Nam cũng như sự chủ quan trong chỉ đạo đã bị kiểm điểm và uốn nắn.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 được tổ chức vào trung tuần tháng 2 năm 1951 tại Tuyên Quang, ông quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai trở lại. Tuy nhiên, khi này tên gọi không còn là Đảng Cộng sản nữa mà có tên mới là Đảng Lao động Việt Nam. Ông tuyên bố:
- "Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là đảng của dân tộc Việt Nam"[48].
Cuộc Chiến tranh Đông Dương kết thúc vào năm 1954, khi người Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ - sự kiện báo hiệu sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi toàn thế giới[49] - và dẫn đến Hiệp định Genève. Kết quả mà đoàn Việt Nam thu nhận được kém hơn nhiều so với mục tiêu đề ra ban đầu. Tuy vậy, trên các phương tiện truyền thông chính thức, Hồ Chí Minh tuyên bố "Ngoại giao đã thắng to![50]
Cuộc cải cách ruộng đất, phát động vào cuối năm 1953 và kéo dài cho tới cuối năm 1957, đã phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng, nhất là trong việc lạm dụng đấu tố và xử tử những người bị liệt vào thành phần địa chủ, phú nông thậm chí vu oan và giết nhầm cả những đảng viên trung kiên. Từ tháng 2 năm 1956, công cuộc sửa sai được khởi sự, phục hồi được khoảng 70-80% số người bị kết án, trả lại tài sản ruộng đất. Những nhân vật cốt cán của cải cách bị cách chức. Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào và cán bộ nhìn nhận sai lầm, ông khóc và nhận lỗi trước hội nghị toàn quốc.
Năm 1959, Hồ Chí Minh tới thăm Bắc Kinh nhân dịp kỷ niệm 10 năm cách mạng Trung Quốc. Trong những cuộc đàm phán riêng, ông nhận được sự hứa hẹn của cả Bắc Kinh lẫn Moskva để viện trợ thêm vũ khí và dân sự, nhưng đã khôn khéo từ chối những đề nghị gửi quân tình nguyện hay cố vấn quân sự đến Việt Nam[51].
Giai đoạn cuối đời
Từ khoảng nửa đầu thập niên 1960, Hồ Chí Minh được coi như chỉ còn nắm giữ vai trò biểu tượng của cách mạng. Ông dành nhiều thời gian để đi thăm hỏi đồng bào. Quyền lực khi này dần dần tập trung về bí thư thứ nhất Lê Duẩn và một số nhân vật gần gũi trong Đảng Lao động Việt Nam[52][53], những người này đã chủ trương tích cực thúc đẩy quá trình thống nhất đất nước bằng cách đẩy mạnh cuộc chiến tranh ở miền Nam. Theo lời ông Vũ Kỳ kể lại, Hồ Chí Minh chỉ biết sự kiện Tết Mậu Thân 1968 đã nổ ra khi nghe đài trong lúc đang dưỡng bệnh tại Trung Quốc[54]. Ông liên tục ốm nặng trong khoảng hơn 3 năm cuối đời.
Hồ Chí Minh bắt đầu viết di chúc vào dịp sinh nhật ông năm 1965, và sửa lại trong những dịp sinh nhật tiếp theo[55]
Trong di chúc, ông có viết "Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới".
Qua đời
Hồ Chí Minh mất vào hồi 9 giờ 47 phút sáng ngày 2 tháng 9 năm 1969, tức ngày 21 tháng 7 âm lịch[56], hưởng thọ 79 tuổi.
Hà Nội đã nhận được hơn 22.000 bức điện chia buồn từ 121 nước trên khắp thế giới[57]. Nhiều nước trong khối xã hội chủ nghĩa đã tự tổ chức truy điệu và đưa ra những lời ca ngợi ông. Một tuyên bố chính thức từ Moskva đã gọi Hồ Chí Minh là một "người con vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng, nhà lãnh đạo xuất chúng của Cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc, và một người bạn lớn của Liên bang Xô Viết". Từ các nước Thế giới thứ ba, người ta ca ngợi ông trong vai trò của người bảo vệ những con người bị áp bức. Một bài báo xuất bản ở Ấn Độ miêu tả ông là sự kết tinh của "nhân dân và hiện thân của khát vọng đấu tranh cho tự do và cho sự đấu tranh bền bỉ của nhân dân"[57]. Những bài báo khác đề cao phong cách giản dị và đạo đức cao của ông. Một bài xã luận trên một tờ báo của Uruguay viết: "Ông có một trái tim bao la như vũ trụ và tình yêu trẻ thơ vô bờ bến. Ông là hình mẫu của sự giản dị trong mọi mặt"[57].
Phản ứng từ các nước phương Tây dè dặt hơn. Nhà Trắng và các quan chức cấp cao của Mỹ từ chối bình luận. Báo chí phương Tây đặt sự chú ý cao đối với cái chết của Hồ Chí Minh. Các tờ báo ủng hộ phong trào phản chiến có xu hướng miêu tả ông như là một đối thủ xứng đáng và là người bảo vệ cho những con người bị áp bức. Ngay cả những tờ báo đã từng phản đối mạnh mẽ chính quyền Hà Nội cũng ghi nhận ông là người đã cống hiến cả cuộc đời cho công cuộc kiếm tìm độc lập và thống nhất đất nước Việt Nam của ông, đồng thời là tiếng nói nổi bật trong việc bảo vệ những dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới[57].
Tang lễ được tổ chức vào ngày 8 tháng 9 tại quảng trường Ba Đình với hơn 100.000 người đến dự, trong đó có các đoàn đại biểu từ các nước xã hội chủ nghĩa. Hàng ngàn người đã khóc. Điếu văn truy điệu ông do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đọc, có đoạn viết:
- "Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa. Tổn thất này vô cùng lớn lao. Đau thương này thật là vô hạn ! Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch - Người anh hùng dân tộc vĩ đại. Và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta..."[58].
Trong bài thơ "Bác ơi" của Tố Hữu, sáng tác ngày 6 tháng 9 năm 1969, có đoạn:
-
- Bác để tình thương cho chúng con
- Một đời thanh bạch, chẳng vàng son
- Mong manh áo vải hồn muôn trượng
- Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.[59]
Trong di chúc, ông muốn được hỏa táng và đặt tro tại ba miền đất nước[60][61]. Tuy nhiên, từ đó đến nay, thi hài ông được bảo quản ở Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội để mọi người có thể đến viếng, tương tự như đối với thi hài Lenin ở Moskva[62].
Di sản
Tại Việt Nam, ông được xem là nhân vật chính trong công cuộc giải phóng dân tộc. Đối với nhiều người, ông là một nhà yêu nước đã vận dụng chủ nghĩa cộng sản vào công cuộc giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân và đế quốc. Tính giản dị và kiên cường của ông được nhiều người kính mến.
Nhiều người dân Việt Nam yêu quý ông, gọi ông bằng cái tên thân mật "Bác Hồ". Trong văn thơ, ông còn được gọi là "Người Cha già dân tộc". Một số dân tộc thiểu số Việt Nam, như Vân Kiều, Pa Cô, Kor, đã lấy họ Hồ vì yêu quý ông[63]. Ông được thờ tại nhiều gia đình Việt Nam[1][64][65], cũng như tại nhiều gia đình Việt kiều ở Thái Lan[66], Lào[67]...và một số gia đình ở các nước khác như Na Uy[68].
Tuy nhiên, tại một số cộng đồng người Việt tại hải ngoại, đặc biệt là Hoa Kỳ, hình ảnh của ông bị phản đối mãnh liệt. Năm 1999, khi một người cho thuê băng đĩa treo chân dung Hồ Chí Minh trước cửa tiệm mình tại Little Saigon, hàng vạn người Mỹ gốc Việt và cựu chiến binh Hoa Kỳ tại Việt Nam đã tham gia biểu tình phản đối, gây ra nhiều tranh cãi về vấn đề tự do ngôn luận tại Hoa Kỳ [69][70][71]. Một cuộc triển lãm nghệ thuật về ông tại Oakland, California năm 2000 cũng bị hàng nghìn người biểu tình phản đối[72] [73]. Là một biểu tượng của chính quyền Việt Nam, hình nộm của ông thường bị đem ra treo cổ và hình ảnh ông bị chà đạp trong nhiều cuộc biểu tình phản đối chính quyền Việt Nam tại Hoa Kỳ[74] [72][75][76][77].
Là một người lãnh đạo cuộc đấu tranh của Việt Nam giành độc lập khỏi chế độ thực dân Pháp, với chiến thắng quyết định ở trận Điện Biên Phủ, ông được người dân ở những nước thuộc địa trước đây của Pháp, chủ yếu ở Bắc Phi và Tây Phi, kính trọng, và được coi như tấm gương cho cuộc giải phóng tại đất nước họ. Tên ông đã được đặt cho các đại lộ tại Luanda (Angola), tại Ouagadougou (Burkina Faso) và tại Maputo (Mozambique). Nhiều nước trên thế giới đã phát hành tem bưu chính kỷ niệm ông: Liên Xô, Ấn Độ, Lào, Madagascar, Algérie, Cuba, Đông Đức, Triều Tiên, Quần đảo Marshall, Dominica...Tượng đài ông được đặt tại nhiều thành phố trên thế giới, trong đó có La Havana (Cuba), Moskva (Nga), Zalaegerszeg (Hungary), Montreuil (Pháp), Calcutta (Ấn Độ) và Antananarivo (Madagascar).[78]
Tưởng niệm
Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, phủ toàn quyền Đông Dương bên cạnh Quảng trường Ba Đình, nơi ông đã đọc Tuyên ngôn độc lập được chọn là nơi làm việc của Đảng, Nhà nước và đồng thời là nơi ở, nơi làm việc của Chủ tịch nước. Từ đó trở đi, nơi đây trở thành Khu di tích Phủ Chủ tịch. Khu này là nơi sống và làm việc lâu nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông - từ 19 tháng 12 năm 1954 đến 2 tháng 9 năm 1969 (đây cũng là khoảng thời gian ông có những đóng góp quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam). Khu di tích Phủ Chủ tịch hàng năm đón nhiều khách tham quan trong và ngoài nước.
Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Hà Nội là khu tưởng niệm về Hồ Chí Minh lớn nhất Việt Nam. Tại các tỉnh thành phố khác cũng có các bảo tàng, nhà lưu niệm về ông, đặt tại những địa điểm ông đã từng sống và làm việc. Nổi bật nhất là bến Nhà Rồng tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi ông đã xuống tàu "Đô đốc Latouche Tréville" ra đi tìm đường cứu nước, và Nhà tưởng niệm xây dựng năm 1970 ở quê nội của ông. Tại các quốc gia khác cũng có các nhà lưu niệm về Hồ Chí Minh, chẳng hạn như ở Pháp. Ngoài ra còn có rất nhiều đài kỷ niệm và bia tưởng niệm. Tại Việt Nam, Hồ Chí Minh còn được thờ trong một số đền, chùa và gia đình. (Xem thêm Danh sách các công trình tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Việt Nam)
Nhằm tôn vinh ông, năm 1976, kỳ họp Quốc hội đầu tiên sau ngày Việt Nam được thống nhất đã thống nhất quyết định đổi tên thành phố Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh. Chiến dịch quân sự lịch sử xảy ra trên thành phố này, kết thúc Chiến tranh Việt Nam và mở đầu thời kỳ thống nhất của Việt Nam cũng mang tên Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Tên ông còn được đặt cho các giải thưởng và huân chương cao quý nhất của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam: Huân chương Hồ Chí Minh là huân chương bậc cao thứ nhì của Nhà nước; Giải thưởng Hồ Chí Minh dành cho những cống hiến trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ. "Cháu ngoan Bác Hồ" là danh hiệu dành cho các thiếu nhi có thành tích cao trong học tập và hoạt động xã hội. Tên ông còn được đặt cho hai tổ chức chính của thanh thiếu niên Việt Nam: Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
Các tên Hồ Chí Minh, Nguyễn Ái Quốc hay Nguyễn Tất Thành còn được đặt cho nhiều công trình công cộng, như đường quốc lộ, quảng trường, đường phố, trường học.
Hình ảnh và tượng ông hiện diện tại nhiều nơi công cộng, cũng như trên tất cả các đồng tiền giấy đang lưu hành tại Việt Nam. Cùng với quốc kỳ, tượng bán thân hoặc hình ông được đặt tại nơi trang trọng nhất của mỗi cơ quan nhà nước và trường học tại Việt Nam.
Danh hiệu
Ông được xem là một danh nhân không chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn của thế giới. UNESCO đã tôn vinh ông là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa[79] và khuyến nghị các nước thành viên tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông do "các đóng góp quan trọng và nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật", và ông "đã dành cả cuộc đời mình cho sự giải phóng nhân dân Việt Nam, đóng góp cho cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của các dân tộc [trên thế giới]"[79] [80]. Tuần báo TIME của Hoa Kỳ bình chọn Hồ Chí Minh là một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20[81].
SỰ KIỆN THÁNG 5
1/5/1904: Ngày sinh đồng chí Trần Phú - Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam
2/5/1917: Ngày sinh của Đại tướng Văn Tiến Dũng
5/5/1818: Ngày sinh Karl Marx
5/5/1959: Ngày Truyền thống Bộ đội Trường Sơn
7/5/1909: Ngày sinh của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch
7/5/1954: Chiến thắng Điện Biên Phủ
7/5/1955: Ngày thành lập Hải quân nhân dân Việt Nam
8/5: Ngày Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ
9/5/1945: Ngày Chiến thắng phát xít
15/5/1941: Ngày thành lập Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh
19/5/1890: Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh
24/5/1906: Ngày sinh của đồng chí Hoàng Văn Thụ











